Đăng bởi: Sao Hồng | 14.04.2013

“CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” TRONG SÁCH “BÊN THẮNG CUỘC”

Liên Xô và các nước Đông Âu, “thành trì chủ nghĩa xã hội” đã sụp đỗ hơn một thập niên rồi. Trung Quốc, Cu Ba, cũng đã loại “chủ nghĩa xã hội” trong các văn bản đại hội Đảng vừa qua. Mình không hiểu tại sao, Việt Nam vẫn “kiên trì chủ nghĩa xã hội” đến thế?

Như bác Ngô Minh (nhà thơ xứ Huế) tổng kết ở Việt Nam, đã có “5 lần phá bỏ chủ nghĩa xã hội” thì cả 5 lần đều thắng lợi rực rỡ mang lại ấm no hạnh phúc cho dân!

Trên thực tế, người ta không thể tồn tại với cái “ước mơ ngàn đời” mà mình chưa hình dung ra nó tròn méo như thế nào? Chỉ có thể giải thích một từ muôn thuở mà nhiều nhà lý luận chính trị đều biết: GIÁO ĐIỀU !

 

Đọc phần “CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” trong sách “BÊN THẮNG CUỘC”, mình mới vỡ ra phần nào. Nhưng câu hỏi trên vẫn là khó trả lời nếu các nhà lãnh đạo, các nhà lập chính sách đường lối cho Việt Nam, chưa đọc BÊN THẮNG CUỘC và chưa chịu rút ra bài học từ lịch sử rất gần của Việt Nam!

****

Bì sách BÊN THẮNG CUỘC (2013)

Bìa sách BÊN THẮNG CUỘC (2013)

Chủ nghĩa xã hội (trích từ “Bên Thắng Cuộc”)

 

Nhiều người vẫn trích dẫn nghị quyết Hội nghị Trung ương 24, “trong một thời gian nhất định, ở miền Nam còn nhiều thành phần kinh tế”(394), để phê phán các chiến dịch cải tạo tư sản. Trên thực tế, ngay sau khi các ủy viên Trung ương từ Hội nghị Trung ương 24 trở về, Chiến dịch X-2395 được triển khai gần như ngay lập tức.

Khi đưa cả hai miền “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, thay v. phải phân tích thực tiễn, các nhà hoạch định chính sách đã tuân theo những nguyên lý của Marx-Lenin – được thiết lập “quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa” thì việc “xóa bỏ giai cấp tư sản” là không tránh khỏi 396.

Ngày 1-9-1975, tại Dinh Độc Lập, khi Thường Vụ Trung ương Cục làm việc với Thành uỷ Sài Gòn-Gia Định để thông qua kế hoạch “Chiến dịch X2”, các thành viên chủ chốt như Nguyễn Văn Trân, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh đều thống nhất coi “giai cấp tư sản là đối tượng của cách mạng”. Chủ tr. buổi làm việc, Phó Bí thư Trung ương Cục Nguyễn Văn Linh thậm chí còn đòi “thanh toán hết giai cấp tư sản” và tỏ ra chưa thỏa mãn với con số “sáu mươi tên tư sản” bị đánh đợt đầu trong Chiến dịch X2. Ông Linh yêu cầu nghiên cứu thêm để “nói đánh sáu mươi tên nhưng thực tế sẽ lan ra cả ngàn tên”397.

 

Sau khi phân tích “hoàn cảnh lịch sử” của Hội nghị Trung ương 24, người thư ký gắn bó nhiều năm nhất với Tổng Bí thư Lê Duẩn, ông Đống Ngạc, nói: “Mình ngồi ở đây, bây giờ, sau khi Liên Xô sụp đổ, mà bàn chuyện cũ, khó lắm”(398). Một trợ lý lâu năm khác của Lê Duẩn, ông Đậu Ngọc Xuân (399), cho rằng: “Lúc đó, lợi ích giai cấp là mục tiêu quan trọng nhất”400.

Trước khi về làm trợ lý cho Lê Duẩn, ông Đậu Ngọc Xuân là trưởng Khoa Kinh tế học Marx-Lenin của trường Nguyễn Ái Quốc. Ông Xuân nhớ lại: “Cho dù anh Ba đã rất trăn trở trước thực tế phát triển của miền Nam, nhưng khi ấy phải sáng tạo ghê gớm lắm mới có thể thoát ra khỏi sự giáo điều của cả phe cộng sản. Sáng tạo thì phải trên cơ sở có sự trưởng thành về mặt lý luận, mà điều này thì ta chưa đủ. Những nhà lý luận của ta đều học từ Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, trường đảng của chúng ta cũng bắt đầu từ các thầy Trung Quốc”.

Một trợ lý khác của ông Lê Duẩn, Giáo sư Trần Phương401, người mà ông Đống Ngạc gọi là “một nhà kinh tế tự do” cũng phải thừa nhận: “Cho đến trước khi Liên Xô sụp đổ, đầu óc của chúng tôi vẫn bị cầm tù trong sự giáo điều của chủ nghĩa Marx”402.

 

Rất nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn cho rằng bộ Tư Bản của Marx là giáo khoa kinh tế học. Nhưng những người thực sự có được học về Marx một cách bài bản ở Đại học Phương Đông như Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong… thì đều đã bị người Pháp tử hình trước ngày “cướp chính quyền”.

Tác giả chính của các chính sách kinh tế áp dụng ở Việt Nam hơn hai thập niên, ông Lê Duẩn, chỉ học hết lớp bốn rồi đi làm nhân viên hỏa xa. Nhiều nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ học Karl Marx qua các bạn tù. Nhiều người phải sau khi nắm quyền mới học với sự giúp đỡ của chính những người giúp việc403.

Nhưng cho dù có học thức, theo ông Đậu Ngọc Xuân: “Bộ Tư Bản mênh mông, gần như không lãnh đạo nào đọc hết, nên nếu lấy ‘Tư Bản’ ra mà dọa thì một anh giúp việc có thể điều khiển được một ủy viên Bộ Chính trị”.

Ông Đậu Ngọc Xuân kể: “Mấy anh giúp việc ông Trường Chinh (trong thập niên 1960) là rất hay trích dẫn Marx-Lenin. Cái câu “sản xuất nhỏ hàng ngày, hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản” làm cụ Trường Chinh rất sợ”404. Không chỉ bởi niềm tin giáo điều, tuân thủ Marx còn là vấn đề kỷ luật.

Theo ông Đống Ngạc: “Những lần đi Liên Xô, anh Ba thấy cách quản lý kinh tế của Liên Xô rất dễ làm mất đi sự sáng tạo của quần chúng. Nhưng lúc đó Liên Xô thường nghe ngóng xem Việt Nam có đi chệch đường không”.

Tháng 11-1957, Hội nghị các Đảng Cộng Sản và Công nhân Thế giới họp lần thứ nhất và tiếp theo đó, tháng 11-1960, đã họp lần thứ hai. Tại đây, “các đảng và các nước chủ nghĩa xã hội anh em” đã ký tuyên bố chung: “Kinh nghiệm của Đảng Cộng Sản Liên Xô trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản có ý nghĩa nguyên tắc đối với toàn bộ phong trào cộng sản quốc tế”.

Tại Hội nghị tháng 11-1960, các đảng cộng sản đã “nhất trí lên án hình thức Nam Tư”, gọi mô hình Nam Tư là “chủ nghĩa cơ hội quốc tế”, là “lý luận của bọn theo chủ nghĩa xét lại hiện đại”.

 

Ngày 29-5-1958, tức là chỉ sau hơn nửa năm ra Hà Nội, trong một cuộc nói chuyện trước 1.000 cán bộ cao cấp, ông Lê Duẩn đã cực lực đả kích chủ nghĩa xét lại Nam Tư405.

Thật khó để đánh giá cuộc nói chuyện được đăng trên báo Nhân Dân này của ông Lê Duẩn là xuất phát từ nhận thức cá nhân hay chỉ để gửi một thông điệp chính trị đến Liên Xô.

Lê Duẩn lúc ấy sắp trở thành tổng bí thư của một đảng vệ tinh, và Liên Xô thì rất cứng rắn với những “anh em” không chịu tuân theo “kinh nghiệm” của họ.

Cán bộ tuyên huấn trong các quốc gia cộng sản, đặc biệt là Việt Nam, có thể dựa trên niềm tin khi lặp đi, lặp lại rằng: “Một xã hội tổ chức trên cơ sở của học thuyết Marx-Lenin mở ra những khả năng vô tận để phát triển kinh tế và văn hoá, để đảm bảo cho mọi người một mức sống cao, một đời sống hòa bình và hạnh phúc”.

Nhưng những người nắm quyền thì biết rõ sự kiện Liên Xô đưa xe tăng vào nghiến nát cuộc biểu tình ở thủ đô Budapest vào tháng 11-1956 sau khi có những cải cách ở Hungary; biết rõ sự kiện Liên Xô bắt nhà cải cách, Bí thư Thứ nhất Tiệp Khắc Alexander Dubcek vào tháng 8-1968. Đêm 20-8-1968, khi cho xe tăng tiến vào thủ đô Prague, Liên Xô đã giam hãm những mầm mống cải cách trong khối xã hội chủ nghĩa suốt hai thập niên sau đó.

Cũng phải thừa nhận, cuối thập niên 1950, đầu 1960, Liên Xô đã tạo ra nhiều thành tựu: tháng 6-1954, khánh thành nhà máy điện nguyên tử đầu tiên trên thế

giới; tháng 10-57, phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên vào vũ trụ; cũng trong năm 1957, thử nghiệm thành công tên lửa vượt đại châu, dùng tên lửa phóng vệ tinh, chụp được ảnh phía sau mặt trăng. Những thành tựu này được mô tả là đã làm cho “các nước trong phe xã hội chủ nghĩa nức lòng, các nước Phương Tây hốt hoảng”.

 

Tháng 11-1960, Liên Xô đưa người bay vào vũ trụ. Sự tuyên truyền về hệ thống xã hội chủ nghĩa mạnh mẽ đến mức có lúc, ở Việt Nam, ông Việt Phương, trợ lý Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đã phải làm thơ than: “Trăng Trung Hoa tròn hơn trăng nước Mỹ / Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sỹ”.

Osin Huy Đức, tác giả BÊN THẮNG CUỘC

Osin Huy Đức, tác giả BÊN THẮNG CUỘC

14/03/2013

Sao Hồng

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_x%C3%A3_h%E1%BB%99i

https://www.facebook.com/BenThangCuocBook

http://baosaigon.info/files/Ben_thang_cuoc.pdf


Danh mục

%d bloggers like this: